Friday, November 11, 2016

QUỐC HIỆU ĐẠI NAM THỜI MINH MẠNG

http://www.youtube.com/watch?v=kyxdlMD17MA


YouTube video Quốc Hiệu Dại Nam Thời Minh Mạng

Quốc Hiệu Dại Nam Thời Minh Mạng

TÊN NƯỚC VIỆT NAM CÓ TỰ BAO GIỜ?

Việt Nam Việt Nam nghe tự vào đời
Việt Nam hai câu nói trên vành môi
Việt Nam Nước Tôi…

QUỐC GIA VIỆT NAM THỜI GIA LONG

Năm 1804, vua Gia Long gửi quốc thư gửi cho vua Thanh đề nghị dùng tên nước Nam Việt để làm quốc hiệu như sau:

“Mấy đời trước mở đất Viêm Giao càng ngày càng rộng gồm cả nước Việt Thường và nước Chân Lạp đặt tên nước là Nam Việt, truyền nối hơn 200 năm. Nay tôi lấy hết cõi Nam, có toàn cõi đất Việt nên theo hiệu cũ Nam Việt để chính quốc danh”.

Thế nhưng triều Thanh sợ đặt lại vấn đề lãnh thổ Văn Lang của Việt tộc nên không chấp nhận tên Nam Việt nên đề nghị tên Việt Nam và chỉ chấp nhận tên Việt Nam. Vô hình trung, triều Thanh của Hán tộc lại lấy tên Việt Nam xưa cũ đã được danh nhân Nguyễn Trãi viết trong “Dư Địa chí” (1428-1430): “Vua Đế Minh trao cho Kinh Dương Vương làm Việt Nam Vương. Vua đầu tiên Kinh Dương Vương sinh ra có thánh đức của bậc Thánh nhân, được phong sang Việt Nam làm tổ Bách Việt”. Sách “An Nam Chí” của Lê Tắc cũng xác nhận việc Hán văn Đế triều Hán trả lại đất Lĩnh Nam cho người Việt mà Triệu Vũ Đế phải là người Việt, nước Nam Việt phải là Việt Nam nên chính vua Hán mới trả lại cương giới của Bách Việt cho Triệu vũ Đế.


Như vậy, tên nước Việt Nam chính thức có từ năm 1804 thời vua Gia Long nhà Nguyễn. Thực ra tên nước Việt Nam đã có từ lâu.

Đời vua Trần Nghệ Tông (1370-1372), Hàn lâm Học sĩ Hồ Tông Thốc được cử đi sứ sang Trung Quốc. Nhân dịp này, Hồ Tông Thốc đã tìm đọc những sách sử Trung Quốc gọi là Ngoại Thư, phần nhiều do những người Tàu gốc Việt viết về gốc tích Việt Nam. Về nước, Hồ Tông Thốc viết Việt Sử Cương Mục và Việt Nam Thế Chí ghi chép về Hùng Triều Thế Phả và lịch sử đời nhà Triệu. Khi viết về Hùng Triều Thế Phả với tên sách là Việt Nam Thế Chí thì tên nước Việt Nam đã có từ thời vua Hùng.

Thật vậy, danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi trong tác phẩm “Dư Địa Chí” soạn vào khoảng năm 1428-1430 đã xác nhận Việt Nam là quốc hiệu của nước ta: "Trong sách chương của Thiên Vương có gọi Việt Nam, Nam Việt, Giao Chỉ, An Nam, Nam Bình, ngày nay cũng gọi là Việt Nam" và “Nước Việt ta, đời đời truyền nhau: vua đầu tiên là Kinh Dương Vương, dòng dõi Đế Viêm sinh ra đã có thánh đức, được phong làm vua ở Việt Nam, là tổ của Bách Việt”.39

Thi tập “Trình Tiên Sinh Quốc Ngữ” của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) mở đầu cũng viết: "Việt Nam khởi tổ xây nền". Nhà bác học Lê Quý Ðôn (1724-1784) trong bộ Bách Khoa Vân Ðài Loại Ngữ, đã dùng hai chữ Việt Nam trong câu: "Nay xét tục ngữ Việt Nam...". Nguyễn Siêu trong tác phẩm “Phương Đình Dư Địa Chí” trích dẫn sách “An Nam Cương vực Bị lục” của Cố Viêm Vũ viết “Nước Việt Nam là nước ở miền ven biển, là đất của 7 quận đời Hán, 3 quận đời Tần”. Sách An Nam Cương vực Bị lục đã bị triều Thanh tịch thu vì không muốn người Hán gốc Việt tưởng nhớ về cội nguồn, về quê cha đất tổ. Như vậy, tên nước gọi là Việt Nam đã có từ lâu chứ không phải tới thời vua Gia Long mới gọi là Việt Nam.
Ngoài ra chúng ta cũng tìm thấy hai chữ Việt Nam trong một số văn bia thế kỷ thứ 17, có khắc tên nước là Việt Nam như:

. Văn bia "Hạ Trùm Trưởng Quan Bi Ký" ở Bắc Ninh, tạo dựng năm 1649 mở đầu viết: "Việt Nam Triệu quốc, Kinh Bắc định vương. Yên Phong Mỹ huyện. Mẫu Xá danh hương".

. Bia "Thế Tồn Bi Ký" tạo vào năm 1670 tại Ðồng Ðăng, Lạng Sơn, mở đầu khắc: "Việt Nam hầu thiệt. Trấn Bắc Ải quan. Thạch bích hoàn vụ Uyên quận giới phiên. Ðồng Ðăng Linh ấp...". Từ trước đến nay, chúng ta gọi tên Ải Nam Quan một cách vô thức vì Ải Nam Quan là tên gọi cửa ải nhìn về phía Nam của Trung Quốc. Văn bia "Thế Tồn Bi Ký" đã xác định tên gọi của chúng ta là "Việt Nam Hầu Thiệt, Trấn Bắc Ải Quan", Ải Trấn Bắc mới chính xác.

. Bia "Hậu thần bi ký", tạo năm 1690 ở Từ Phong, huyện Quế Võ, Bắc Ninh, mở đầu: "Việt Nam cảnh giớị Bắc nhất vi tiên. Từ Sơn mỹ hi. Hữu thị miếu triều".

Nhà bác học Lê Quý Ðôn (1724-1784) trong bộ Bách Khoa Vân Ðài Loại Ngữ, đã dùng hai chữ Việt Nam trong câu: "Nay xét tục ngữ Việt Nam...".

Tác phẩm “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Siêu cũng viết “Nước Việt Nam là nước ở miền ven biển, là đất của 7 quận đời Hán, 3 quận đời Tần”. Nguyễn Siêu căn cứ vào sách “An Nam Cương vực Bị lục” của Cố Viêm Vũ, Sách này đã bị triều Thanh tịch thu vì không muốn người Hán gốc Việt tưởng nhớ về cội nguồn, về quê cha đất tổ.

QUỐC HIỆU ĐẠI NAM THỜI MINH MẠNG

Cuối năm 1838, vua Minh Mạng ban chỉ dụ đặt tên nước là Đại Nam như sau: “Nay Bản triều có cả phương Nam, bờ cõi ngày càng rộng, một dải phiá Đông đến tận biển Nam vòng qua biển Tây. Phàm là người có tóc có răng đều thuộc vào đồ bản, bãi biển xó rừng khắp nơi theo về cả… Trước gọi Việt Nam, nay gọi là Đại Nam, hết thảy giấy tờ xưng hô phải chiếu theo đó mà thi hành…”.

Vấn đề đặt ra là tại sao vua Minh Mạng lại không giữ quốc hiệu Việt Nam mà lại đặt tên nước là Đại Nam? Khách quan nhận định về thời vua Minh Mạng trị quốc, ai cũng phải thừa nhận đây là thời kỳ hưng thịnh của đất nước: Vua Minh Mạng đã hoàn thành cuộc Nam Tiến, Việt Nam và Xiêm La (Thái Lan bây giờ) tranh giành ảnh hưởng và cuối cùng Việt Nam đã sát nhập Chân Lạp vào Việt Nam độc chiếm ảnh hưởng vùng lục địa Đông Nam Á mở rộng lãnh thổ chưa từng có. Chính vì vậy nhà vua đã nghĩ tới việc đặt quốc hiệu mới cho một thời kỳ hùng mạnh của “Đế Quốc” Việt Nam nên mới đặt tên nước là Đại Nam.

Ở đây có một vấn đề chúng ta phải xét lại là sử quan triều Nguyễn rõ ràng có một định kiến về thời thịnh trị của 2 triều đại Lý-Trần nên ngay trong chiếu tuyên cáo của vua Gia Long đã viết không những không trung thực và cố tình miệt thị triều Lý khi viết rằng “Từ đời nhà Lý về sau quen dùng tên An Nam do nhà Tống phong cho ngày trước đặt làm tên nước. Do vậy, vận hội dù có đổi thay nhưng trải bao đời vẫn giữ tên cũ. Thực là trái với nghĩa chân linh dựng nước…”.


Chắc chắn là giới sử quan triều Nguyễn phải biết rõ là năm 1054, vua Lý Thánh Tôn đã đặt quốc hiệu là Đại Việt. Nhà Trần 3 lần chiến thắng giặc Nguyên Mông vẫn giữ tên nước là Đại Việt và đến nhà Lê, bản Bình Ngô Đại Cáo đã tuyên xưng “Chỉ nước Đại Việt ta từ trước, mới có nền văn hiến ngàn năm… Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, nhưng hào kiệt đời nào cũng có…”. Sử quan thời Minh Mạng đã hẹp hòi thiển cận không muốn lấy tên nước Đại Việt thời Lý Trần nên đã trình lên vua Minh Mạng chọn tên nước là Đại Nam mà bỏ đi chữ Việt cội nguồn dân tộc. Chính vì vậy, ngày 3 tháng 5 năm 1945, Hoàng Đế Bảo Đại tuyên chiếu xác nhận quốc hiệu mới như sau: “Chư Khanh, Nội Các này là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập sau 80 năm thuộc quyền ngoại quốc thống trị…”.

No comments:

Post a Comment